Khi viết bài này tôi biết sẽ gây ra nhiều ý kiến trái chiều (đặc biệt sẽ xung đột với các bên làm dịch vụ cấp e-Visa Việt Nam), nhưng việc nói ra thực tế để mọi người lựa chọn cách làm phù hợp với từng trường hợp cụ thể là điều cần thiết.
Sự tình bắt nguồn từ việc tôi lên kế hoạch về Việt Nam ăn Tết 2026. Nhưng có một việc ngoài kế hoạch mà tôi không tính tới, đó là hộ chiếu của em bé sẽ hết hạn vào tháng 4/2026.
Mặc dù theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 33 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam số 49/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 23/2023/QH15, công dân Việt Nam được xuất cảnh khi có hộ chiếu còn giá trị sử dụng, có thị thực hoặc giấy tờ chứng minh được nước đến cho phép nhập cảnh và không thuộc các trường hợp bị cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật. Tức là đã KHÔNG còn bị ràng buộc bởi “hộ chiếu phải còn hạn sử dụng từ đủ 6 tháng trở lên” khi xuất nhập cảnh nữa, nhưng thực tế vẫn có nhiều trường hợp không được bay trong tình huống tương tự trong tháng 12 năm ngoái (không rõ lý do).
Vì vậy, để chắc ăn, tôi cần có phương án dự phòng. Tìm hiểu sơ sơ, có 4 sự lựa chọn nảy ra:
- Nhập cảnh bằng hộ chiếu Việt Nam gần hết hạn, sau đó xin cấp hộ chiếu mới tại Việt Nam
- Xin cấp hộ chiếu Việt Nam tại Úc, nhập cảnh Việt Nam bằng hộ chiếu mới
- Xin cấp giấy miễn thị thực 5 năm dành cho gia đình (vợ chồng, con cái) của người Việt Nam, sau đó dùng hộ chiếu Úc + giấy miễn thị thực để nhập cảnh Việt Nam
- Xin cấp e-Visa Việt Nam, dùng hộ chiếu Úc + e-Visa Việt Nam để nhập cảnh
Việc xin cấp lại hộ chiếu cho em bé ở Việt Nam trong tháng Hai không được chắc chắn, một phần là vì Tết (mất toi ít nhất 10 ngày nghỉ Tết không cơ quan nào làm việc), phần khác là vì thời gian chờ cấp không đảm bảo (mặc dù trên Cổng thông tin dịch vụ công quốc gia có nhắc đến 5 ngày làm việc nhưng thực tế nhiều người quen của tôi chờ cả tháng trời mới nhận được hộ chiếu mới).

Cuối cùng, tôi ưu tiên cân nhắc xin visa nhập cảnh Việt Nam cho em-bé-người-nước-ngoài.
Tôi suy xét và nhận ra một số điểm đặc biệt nghiêm trọng trong lúc điền hồ sơ xin e-Visa Việt Nam, mà nếu không cẩn thận sẽ gây ra những việc khó nói trong tương lai.
E-visa Việt Nam và những “mập mờ” cần được biết
Mập mờ #1 — Câu hỏi: “Người đề nghị cấp thị thực điện tử đã từng sử dụng hộ chiếu khác để nhập cảnh Việt Nam hay không?” → NÊN CHỌN GÌ?
Nếu là một người hoàn toàn không liên quan gì đến quốc tịch Việt Nam, ở câu hỏi này tôi có thể mạnh dạn chọn. Nếu có, điền thông tin theo yêu cầu. Nếu không, không cần phải điền gì cả.
Nhưng vì em bé mang song tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam, mà ở phần lựa chọn quốc tịch tuyệt nhiên không có “Việt Nam”, thì điền thế nào, “Có” hay “Không”?
Tương tự, ở câu hỏi “Người đề nghị cấp thị thực điện tử có mang nhiều quốc tịch hay không?”, nếu mang song tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam thì điền thế nào?

Nếu tôi chọn “Không” trong khi thực tế em bé có quốc tịch Việt Nam thì tôi sẽ bị xem là khai không đúng sự thật. Nếu bị phát hiện ra, nhẹ thì bị từ chối cấp visa, nặng thì gặp rắc rối khi nhập cảnh sau này. Tôi là kẻ thượng tôn pháp luật, không gian lận, nên đương nhiên sẽ không khai xạo, khai láo.
Nhưng sau khi chọn “Có” thì lại không thể hoàn thành phần điền thông tin, đồng thời cũng không thể nộp hồ sơ.
Đây là lý do tôi từng nói ở bài Hướng dẫn xin e-Visa Việt Nam cho người nước ngoài rằng: e-Visa Việt Nam chống chỉ định cho cá nhân giữ quốc tịch Việt Nam. Nếu bạn là người Việt Nam thì bạn không thuộc đối tượng xin visa.

Mập mờ #2 — Vì sao dịch vụ nói “song tịch vẫn làm được e-visa việt Nam”?
Vì họ KHÔNG khai bạn là người có quốc tịch Việt Nam. Vậy thôi 🤷🏻♀️
Cụ thể, họ sẽ làm một (hoặc nhiều) việc sau:
Cách 1 (phổ biến nhất)
- Câu hỏi nào liên quan đến quốc tịch khác hay hộ chiếu khác thì đều chọn KHÔNG
- Đồng thời chỉ khai quốc tịch Úc
- Dùng hộ chiếu Úc từ đầu đến cuối
Hệ thống cho nộp đơn, thế là được cấp e-Visa Việt Nam.
📌 Về mặt kỹ thuật: đúng form
📌 Về mặt pháp lý: khai sai tình trạng quốc tịch
Cách 2 (ít hơn nhưng vẫn có)
- Chọn CÓ ở các câu hỏi liên quan đến quốc tịch
- Nhưng không khai quốc tịch Việt Nam mà khai quốc tịch khác (chọn đại 1 quốc gia trong danh sách)
Hệ thống vẫn cho nộp đơn nhưng cách này hên xui may rủi, dễ bị từ chối visa, bị đánh dấu hồ sơ gian dối
Mập mờ #3 — Vì sao dịch vụ vẫn nhận làm?
Thậm chí còn động viên “làm đi, nhanh lắm” 🙂
Cơ bản thì dịch vụ chỉ chịu trách nhiệm “ra được visa”, không chịu trách nhiệm pháp lý nếu bạn bị rắc rối gì sau này. Nếu bị “mắng vốn” họ cũng chỉ có thể qua loa rằng: “Tụi em làm cho nhiều người rồi, chưa thấy ai bị sao, chắc anh/chị xui” 😃 Rồi bạn cũng không làm gì được họ, mà chính bạn là người nhận hậu quả sau cùng.
Dịch vụ là bên điền hồ sơ cho bạn, đương nhiên họ biết rõ trong hồ sơ có những câu hỏi gì. Và đương nhiên họ cũng biết điều tối kỵ trong khai hồ sơ xin visa chính là gian dối, không trung thực. Cái mà tôi thấy “thất đức” ở đây là họ biết nhưng không nói rõ từ đầu các rủi ro có thể xảy ra đối với việc xin e-Visa Việt Nam khi bạn đang giữ quốc tịch Việt Nam. Họ không cho bạn—khách hàng của họ có quyền lựa chọn, mà họ lựa chọn luôn cho bạn—khai gian dối.
Nói đi cũng phải nói lại, nếu bên dịch vụ đã nói trước nhưng bạn vẫn quyết tâm làm sai thì mọi rủi ro là do bạn tự lựa chọn từ đầu.
Nếu tôi làm dịch vụ, tôi sẽ từ chối luôn những ca làm e-Visa Việt Nam cho người giữ quốc tịch Việt Nam. Chỉ là để bảo vệ mình và không làm hại người.
Mập mờ #4 — Vì sao nhiều người vẫn “đi trót lọt”?
Vì không phải ai cũng bị kiểm tra chéo.
Hệ thống e-Visa không tự động soi hồ sơ hộ tịch và không phải lúc nào cũng đối chiếu dữ liệu quốc tịch Việt Nam. Nếu nói “bị phát hiện ra” là xui, thì cũng có thể nói “không bị phát hiện ra” là hên.
⚠️ Nhưng điều này không có nghĩa là hợp pháp.
Nếu nhân viên hải quan muốn “phát hiện” thì bạn cũng khó mà né tránh được. Ví dụ họ hỏi: “Bạn sinh ở Việt Nam, sao nói không có quốc tịch Việt Nam?” (trong bất kỳ quyển hộ chiếu nào cũng đều có thông tin nơi sinh). Bạn có thể “lươn lẹo” bằng cách nào đó, nhưng không thể biện minh thêm nếu họ tra ra tên bạn trên hệ thống, dữ liệu cũ còn lưu bạn từng có hộ chiếu Việt Nam hoặc tra ra lịch sử xuất nhập cảnh bằng hộ chiếu Việt Nam của bạn. Nói chung đến lúc đó thì gọi là bạn xui rồi đó!
Vậy làm sao để đúng và an toàn?
Tôi hiểu rằng không phải ai cũng rảnh rỗi hay có khả năng làm e-Visa Việt Nam khi cần thiết. Tôi cũng không cổ suý rằng các bên dịch vụ đều “thất đức”. Tôi chỉ muốn nói rằng: dù là tự làm, hay nhờ dịch vụ, thì cũng đừng mạo hiểm xin e-Visa Việt Nam khi bạn đang giữ quốc tịch Việt Nam.
Quay lại trường hợp em bé của tôi, sau khi cẩn trọng suy xét, tôi đã không làm e-Visa Việt Nam cho con. Theo phương pháp loại trừ, 4 lựa chọn nảy ra lúc ban đầu chỉ còn có 1:
Nhập cảnh bằng hộ chiếu Việt Nam gần hết hạn, sau đó xin cấp hộ chiếu mới tại Việt Nam- Xin cấp hộ chiếu Việt Nam tại Úc, nhập cảnh Việt Nam bằng hộ chiếu mới
Xin cấp giấy miễn thị thực 5 năm dành cho gia đình (vợ chồng, con cái) của người Việt Nam, sau đó dùng hộ chiếu Úc + giấy miễn thị thực để nhập cảnh Việt NamXin cấp e-Visa Việt Nam, dùng hộ chiếu Úc + e-Visa Việt Nam để nhập cảnh
Nói chung đối với người giữ song tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì tốt nhất là quên chuyện làm e-Visa Việt Nam đi nha quý zị, mà hãy cân nhắc làm miễn thị thực nếu hộ chiếu của quốc tịch thứ 2 vẫn còn hạn sử dụng trên 1 năm. Nhưng kiểu gì cũng phải làm lại hộ chiếu Việt Nam thì canh thời gian rồi làm lại cho yên tâm xuất nhập cảnh. Vì tính ra nhập cảnh Việt Nam bằng hộ chiếu Việt Nam có nhiều cái lợi liên quan đến làm giấy tờ cho bản thân và làm việc với cơ quan nhà nước.
